Chào mừng quý vị đến với website Phan Văn Diễn

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

Bài giảng về Biển - Đảo Viêt Nam

Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Phan Văn Diễn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:46' 11-12-2010
Dung lượng: 26.8 MB
Số lượt tải: 112
Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Văn Tình)

Hải quân nhân dân việt nam
Tình hình biển đảo nước ta hiện nay. Một số giải pháp chủ yếu tăng cường quốc phòng an ninh trên biển góp phần thực hiện thắng lợi chiến lược biển việt nam đến năm 2020
Nội dung giới thiệu gồm:
I. khái quát tình hình biển, đảo thế giới khu vực biển Đông và tình hình biển đảo nước ta hiện nay.
ii. Thực trạng trên một số Vùng biển Nước ta và Quan điểm của Đảng Nhà nước ta trong giải quyết vấn đề Biển Đảo
Iii. hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa của HQND Việt Nam trong thời gian vừa qua.
Thời gian: 1giờ 30 phút
" Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng,
Ngày nay ta có ngày, có trời, có
biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta
phải biết giữ gìn lấy nó .".
Hồ chí Minh
1. Vai trò của biển và đại dương đối với sự phát triển loài người:
Biển và đại dương chiếm 3/4 diện tích bề mặt của trái đất. Biển và đại dương được coi là cái nôi đầu tiên của sự sống trên trái đất. Trong lòng biển và đại dương chứa đựng các nguồn khoáng sản, năng lượng và sinh vật vô cùng to lớn. Tài nguyên biển và những lợi thế do biển mang lại hứa hẹn nhiều triển vọng to lớn đối với các nước, nhất là những nước có biển.
Thế kỷ 21 được coi là thế kỷ của đại dương, tiến ra biển đã và đang trở thành là xu hướng chung của thế giới và khu vực. Vì các lý do sau đây:
+ Dân số thế giới gia tăng, không gian sinh tồn trên đất liền ngày càng trở nên hạn hẹp,
+ Nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, trong khi đó tài nguyên trong lòng biển lại vô cùng phong phú; (Về Băng cháy)
+ Khoa học công nghệ biển đã phát triển vượt bậc, cho phép loài người có thể nghiên cứu, thăm dò và khai thác biển có hiệu quả hơn và vươn ra xa
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Năm 2010
- Các nước trên thế giới và khu vực tiến ra biển như sau:
+ Ưu tiên phát triển các ngành khoa học công nghệ liên quan đến biển như nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên biển...
+ Tranh thủ khai thác tài nguyên, đánh bắt hải sản ở các vùng biển công,
+ Phát triển cơ sở hạ tầng ở các khu vực ven biển, hải đảo
+ Tạo hành lang pháp lý cho việc vươn ra biển, ban hành các văn bản chính sách ...
+ Ưu tiên phát triển các lực lượng bảo vệ biển như Hải quân, Không quân,,
2. Vị trí vai trò Biển Đông
Biển đông là biển lớn đứng thứ 2 trên thế giới;(Sau biển úc), Diện tích khoảng 3,4 triệu km2 được bao bọc bởi 9 nước và 1 vùng lãnh thổ. Biển Đông là một trong 10 tuyến hàng hải lớn nhất thế giới, là tuyến đường biển huyết mạch không chỉ đối với các nước trong khu vực, mà còn với các nước trên thế giới. Là biển nhộn nhịp đứng thứ 2 trên thế giới.
Tài nguyên biển Đông giàu gấp 8 lần biển Đen, hải sản chiếm 10 % thế giới. Các nước khu vực quanh Biển Đông đều là các nước có nền kinh tế phần lớn phụ thuộc vào từ điều kiện thuân lợi của môi trường biển; Vấn đề nuôi trồng, khai thác đánh bắt thuỷ hải sản thì khu vực BĐ cũng có một trữ lượng thuỷ, hải sản rất lớn.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
+ Với 25% lưu lượng tàu thuyền của thế giới qua lại thường xuyên,
+ Nhiều nền kinh tế trong đó có những nền kinh tế lớn của thế giới như Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc phụ thuộc sống còn vào các tuyến đường hàng hải quốc tế trên Biển.
+ Nếu khủng hoảng nổ ra ở Biển Đông làm cho giao thông hàng hải bị gián ... hàng hoá xuất khẩu của các nước sử dụng đường biển này không còn sức cạnh tranh và hậu quả là nhiều nền kinh tế sẽ bị suy thoái, khủng hoảng, ảnh hưởng lớn đến kinh tế và an ninh thế giới.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.

3- ý đồ của các nước đối với Biển Đông
* Đối với các nước ngoài khu vực:
Thứ nhất, Đối với Mỹ:
- Từ năm 1945 đến nay, Mỹ đã rất kiên trì trong việc tranh giành ảnh hưởng và lợi ích tại khu vực Tây Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam á..
- Chiến lược Châu á - Thái Bình Dương. Mỹ đang dịch chuyển trọng tâm chiến lược về khu vực này. Có thể nêu lên một số dấu hiệu sau:
+ Thành lập Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương; Hạm đội Thái Bình Dương lớn hơn so với Hạm đội Đ.T. Dương.
+ Củng cố vị thế chiến lược đã có ở Đông Bắc á....
+ Số tiền viện trợ quân sự của Mỹ cho các nước thân thiện tăng lên
+ Lợi dụng tâm lý lo ngại của đa số các nước ASEAN đối với Trung Quốc nên muốn dựa vào Mỹ để làm đối trọng,
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Thứ hai, Đối với Nhật Bản:
Biển Đông có vị trí rất quan trọng đối với an ninh kinh tế và an ninh quốc gia của Nhật.
Thứ ba, đối với Nga:
Là một quốc gia nằm xa Biển Đông, song Nga vẫn tăng cường sự hiện diện và ảnh hưởng của họ ở Châu á - Thái Bình Dương, duy trì mối quan hệ với Trung Quốc và Việt Nam làm đối tác chiến lược, làm đối trọng với Mỹ và Châu Âu ở khu vực này.
Hiện nay Nga vẫn duy trì một lực lượng quân sự mạnh ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương. Trong chiến lược Biển Đông của các nước trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương, Nga được xem như một lực lượng có khả năng răn đe, cũng có thể can thiệp quân sự khi cần thiết.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
* ý đồ của các nước trong khu vực Biển Đông (có 9 nước)
Đối với Trung Quốc: Thực hiện mục tiêu chiến lược xây dựng quân đội "Công thủ song hành", xây dựng Hải quân theo hướng chuyển từ "Hải quân nước vàng" (tác chiến gần bờ) sang "Hải quân nước xanh" (tác chiến xa bờ). Với mục tiêu đó, họ đang đẩy nhanh tốc độ triển khai đưa vào sử dụng hạm đội tàu sân bay nhằm nâng cao năng lực tác chiến phối hợp khả năng kiểm soát các vùng biển xa của Hải quân.
Trung Quốc luôn duy trì yêu sách vùng biển của họ theo đường "lưỡi bò" và đang tìm cách triển khai các hoạt động thực tế để khẳng định yêu sách này. Đặc biệt, nhằm vào các khu vực biển có tiềm năng về tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở phía Nam Biển Đông.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Philippin:
Là quốc gia đảo
Từ năm 1951 Philippin bắt đầu chuẩn bị dư luận để yêu sách quần đảo.
Từ năm 1971 đến 1980 Philippin lần lượt chiếm đóng 9 đảo, bãi thuộc khu vực Trường Sa.
Năm 1979 Philippin đã ban hành sắc lệnh qui định khu vực quần đảo Trường Sa thuộc Philippin.Ngày17-1-1973 Philippin tuyên bố vùng tiếp giáp, ngày 11- 6-1978 công bố luật số 1599 về vùng đặc quyền kinh tế và hiện đang tiến hành thăm dò và thu thập số liệu về việc mở rộng TLĐ lên 350 hải lý.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Malaixia:
+ Năm 1974 Malaixia công bố ranh giới ngoài của thềm lục địa, trên cơ sở đó yêu sách chủ quyền đối với các đảo đá, bãi của quần đảo Trường Sa nằm trong phạm vi thềm lục địa, là lãnh thổ thuộc Malaixia.
+ Năm 1984 Malaixia công bố luật số 311 về Vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và đang nghiên cứu khả năng mở rộng thềm lục địa ngoài 200 hải lý. Giữa Việt Nam và Malaixia tồn tại một vùng chồng lấn vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng 2.800km2. Tháng 5/1992, hai nước đàm phán ở Kuala Lamper và đã ký thoả thuận hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn, giao cho các công ty dầu lửa của hai nước ký các dàn xếp thương mại và tiến hành hợp tác thăm dò khai thác. Việc phân định vùng chồng lấn sẽ giải quyết sau.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Thái Lan: Là nước có vùng biển rộng, giàu tài nguyên, giữ vị trí quan trọng cho việc phát triển kinh tế, quốc phòng - an ninh, vì thế Thái Lan tăng cường sức mạnh hải quân với mục đích bảo vệ biển đảo của mình. Là đồng minh của Mỹ, Thái Lan rất tích cực tham gia diễn tập với Mỹ, Ôxtrâylia và các nước khác trong khu vực. Đối với Biển Đông, Thái Lan ít có xung đột quyền lợi, đặc biệt là với Trung Quốc. Với chính sách ngoại giao thực dụng, Thái Lan sẽ không đối đầu với các quốc gia khác; trường hợp xảy ra xung đột ở khu vực quần đảo Trường Sa thì Thái Lan là nước dễ bị Trung Quốc chi phối nhất.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Inđônêxia:
Là quốc đảo nên biển có vị trí cực kỳ quan trọng với an ninh quốc gia và phát triển kinh tế của đất nước. Inđônêxia chủ trương giữ vững hoà bình, ổn định an ninh khu vực Biển Đông, giải quyết mọi tranh chấp trên Biển Đông và quần đảo Trường Sa bằng đối thoại hoà bình. Inđônêxia hết sức e ngại mối đe doạ bành trướng xuống phía Nam của Trung Quốc và luôn cực lực phản đối quan điểm "Gác tranh chấp cùng khai thác" do Trung Quốc đề xướng. Bên cạnh đó, Inđônêxia đang tăng cường khả năng quốc phòng, đặc biệt là sức mạnh của hải quân, với mục đích phòng thủ bảo vệ quốc đảo của mình. Với các tranh chấp ở khu vực quần đảo Trường Sa, Inđônêxia kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng đàm phán hòa bình, ít có khả năng sử dụng lực lượng của mình liên kết với nước khác để đối đầu với Trung Quốc. Trường hợp Trung Quốc xâm phạm khu vực Natuna thì Inđônêxia sẽ liên minh với các nước trong ASEAN hoặc tìm kiếm sự bảo trợ của Mỹ để ngăn chặn.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Singapo:
Là một quốc đảo mà kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào vận tải biển và cũng không có yêu sách gì ở Biển Đông.
Singapo chủ trương ủng hộ hoà bình, ổn định trong khu vực. Để đối phó với sự bành trướng của các nước lớn ở Biển Đông Singapo đã cho phép Mỹ sử dụng các cơ sở quân sự của mình, tạo điều kiện cho Mỹ duy trì sự hiện diện và ảnh hưởng ở khu vực.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
Brunây:
Brunây có đòi hỏi chủ quyền ở quần đảo Trường Sa nhưng thực tế chưa chiếm đóng một đảo đá ngầm nào trong quần đảo; tỏ thái độ ủng hộ hòa bình, an ninh khu vực, giải quyết các vấn đề trên biển bằng thương lượng đàm phán hòa bình.
Năm 2010
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
4-Tình hình biển, đảo nước ta gần đây:
a-Diện tích và các khu vực biển nước ta:
-Theo Công ước của LHQ về luật biển năm 1982. Việt Nam không chỉ có phần lục địa nhỏ hẹp "hình chữ S", mà còn có cả Vùng biển rộng hơn 1,3 triệu Km2 (Diện tích nước ta 331.000km2, chiều dài bờ biển nước ta: 3.260 km).
- Các khu vực trong vùng biển nước ta: Gồm:
Khu vực Vịnh Bắc bộ.
Khu vực Quần đảo Hoàng sa và vùng biển Miền trung.
Khu vực Quần đảo Trường sa và vùng biển Miền Nam Trung Bộ.
Khu vực thềm lục địa phía nam.
Khu vực Vùng biển Tây Nam.
Năm 2010
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
b. Các đảo lớn của nước ta.
Sau ngày đất nước được thống nhất, ngoài việc quản lý lãnh thổ đất liền với diện tích gần 330.000km2 và bờ biển dài 3.260 km, tương đương với chiều dài biên giới trên đất liền, nước ta còn có một vùng biển và thềm lục địa rộng lớn trên 1 triệu km2 với trên 2.780 hòn đảo lớn nhỏ chạy dọc theo chiều dài từ Bắc xuống Nam. Trong đó nổi bật là 2 quần đảo Hoàng sa với trên 30 hòn đảo, bãi cạn, bãi đá ngầm,cồn san hô lớn nhỏ, thuộc Thành phố Đà Nẵng (Hiện nay đang bị trung Quốc chiếm đóng); quần đảo Trường sa với trên 100 hòn đảo, bãi cạn, bãi đá ngầm, cồn san hô lớn nhỏ, thuộc tỉnh Khánh Hoà và các đảo lớn thuộc các tỉnh như: Quảng ninh có các đảo -Vĩnh thực; Đảo trần; Cô tô; Thanh lân; Cái bầu; Trà bản-Vịnh Hạ long: Hơn 1 nghìn hòn đảo lớn nhỏ; Hải Phòng có các đảo: Cát Bà; Bạch Long Vĩ; Thanh hoá có đảo Hòn Mê; Nghệ An có đảo: Hòn Ngư; Hòn Mát; Hà Tĩnh có đảo: Hòn én; Hòn Con Chim ; Hòn Sơn Dương; Quảng Bình có đảo: Hòn La; Hòn Gió; Quảng trị có đảo Cồn Cỏ; Đà Nẵng có Hòn Sơn Trà; đảo Cù Lao Chàm; Quảng ngãi có đảo: Lý Sơn; Hòn Rùa; Bình định có Cù Lao Xanh; Phú Yên có Hòn mái nhà. .; Khánh hoà có đảo: Hòn Bíp; Hòn Lớn; Hòn Nhỏ, Hòn Nội; Hòn Ngoại; Hòn Tre; Bình thuận có đảo Phú Quý ( Cù Lao thu ); Bà rịa- Vũng tàu có Côn Sơn ( Côn Đảo);Cà mau có đảo Hòn Khoai; Kiên giang có các đảo: Phú Quốc, Thổ Chu; Nam Du; Hòn Sơn (Rái); Hòn Tre.
Năm 2010
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
c. Vài nét về thềm lục địa phía Nam (DK1).
- Thềm lục địa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến hết bờ ngoài của rìa lục địa. Nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách dường cơ sở để tính chiều dài của lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở. Hiện nay chúng ta đang đóng giữ trên 6 lô: Tư Chính; Phúc Nguyên; Phúc Tần; Quế Đường; Huyền Trân; Bà Kè, chúng ta đã xây dựng được trên 20 nhà dàn, nhà gần nhất cách nhau 7 đến 13 hải lý, xa nhất là 200 hải lý để quản lý và bảo vệ chủ quyền thềm lục địa .
e-Tình hình trên các vùng biển, đảo nước ta thời gian gần đây:
* Trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ:
- Từ khi hai nước VN-TQ triển khai thực hiện Hiệp định phân định VBB và Hiệp định hợp tác nghề cá,
+ Hoạt động của tàu cá Trung Quốc từ năm 2005 đến nay ở VBB tăng gấp 4 lần so với trước.
+ Đã nảy sinh hiện tượng tranh giành ngư trường, xâm phạm vùng biển của hai nước đánh bắt trộm hải sản, bị xử phạt tương đối nhiều (hàng ngày có khoảng 300 tàu cá Trung quốc hoạt động trong khu vực đánh cá chung, trong số đó có 30% hoạt động sang tây đường phân định, có khoảng 30% số tàu hoạt động sang tây đường phân định vi phạm Hiệp định).

Năm 2010
Quảng Ninh
Quảng Trị
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta
*-Khu vực vùng biển ngoài cửa Vịnh BB:
+Hiện nay, tính chất phức tạp trên
vùng biển VBB có xu hướng đẩy ra
ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ
+ Năm 2005, Tổng công ty dầu khí
ngoài khơi quốc gia của Trung Quốc
thông qua kế hoạch mời các công ty nước
ngoài vào thăm dò, khai thác tại 10 lô
thuộc các Vịnh Bột Hải, Hoàng Hải, Đông
Hải và Nam Hải.
+Trung Quốc đã tổ chức hai đợt hoạt
động của tàu Tan Bao Hao (đợt 1 từ 25/5 -
20/6/2005; đợt 2 từ 26/8 - 24/10/2005)
nhằm thăm dò địa chấn cách đảo Lý Sơn
40 - 60 hải lý.
+ Tháng 6/2006, Trung Quốc đã thuê tàu ( của Mỹ) NO-RIT-EXPLO-Rơ thăm dò ở cửa VBB cách đảo Lý Sơn 83-85 hải lý. Trung quốc đã huy động 9 tàu có vũ trang hổ trợ cho tàu thăm dò này
+ Từ đầu tháng 4/2007, Trung Quốc lại đưa 2 tàu (Phấn Đấu 4 và Hải Dương 4) hoạt động ở Đông Bắc đảo Lý Sơn 70 - 100 hải lý, xâm phạm chủ quyền vùng biển của ta. ( Xem nh)

I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta.
- Hoạt động của Trung Quốc:
+ Cùng với đẩy mạnh tuyên truyền khẳng định chủ quyền của Trung quốc ở Trường Sa, kích động thu hồi Trường Sa.
Trung quốc đẩy mạnh tăng cường sức mạnh quân sự, luyện tập các phương án tác chiến đánh chiếm Trường Sa khi có thời cơ. ( xem TQ diễn tập)
+ Đáng lưu ý, từ tháng 6/2005, Trung Quốc đã tổ chức vận chuyển người, phương tiện, vật liệu đồng loạt xây dựng củng cố, nâng cấp, kiên cố hoá và mở rộng các công trình trên 7 đảo, bãi đá
Riêng tại đảo Xu Bi, Trung Quốc đã cho xây dựng thêm 1 nhà 3 tầng, đưa tàu mở luồng vào đảo
Năm 2007
Chữ Thập
Gạc Ma
Huy Gơ
Vành Khăn
Ga Ven
Xu Bi
Châu Viên

+ Cùng với các hoạt động về quân sự, Trung Quốc còn gia tăng hoạt động của các tàu cá vừa đánh bắt, vừa trinh sát. Các tàu cá của Trung Quốc nhiều lần hoạt động ở gần các đảo và bãi cạn của ta, trung bình 40-60 lần/chiếc/ngày. Hoạt động của tàu cá Trung Quốc rất lì lợm, có lúc sát mép đảo, chúng ta xua đuổi, thậm chí bắn cảnh cáo họ không chịu đi (vì biết ta bắn cảnh cáo, không bắn vào họ), khi chúng ta cho xuồng máy xua đuổi họ mới chịu rời đảo.(mời các đ/c xem Trung quốc Xây dựng tại Hoàng Sa -Trường Sa)
Khu vực quần đảo trường sa
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta
Song Tử Tây
Nam Yết
Sinh Tồn
Trường Sa Lớn
Hoạt động của Đài Loan:
Tiếp tục duy trì sự có mặt của Hải quân ở Trường Sa với mật độ dày hơn, thời gian tàu lưu lại đảo lâu hơn. Tiến hành xây dựng sân bay trên đảo Ba Bình, hoàn thành vào tháng 12/2006.
( hình ảnh Đài Loan xây dựng)
Hoạt động của PhilipPin:
Từng bước dân sự hoá các đảo đã chiếm đóng như: Tiến hành nâng cấp sân bay, cơ sở hạ tầng trên đảo Thị Tứ nhằm đảm bảo cho 300 người làm ăn sinh sống; thành lập cơ quan hành chính (tiểu thị chính); đưa vào sử dụng trạm phủ sóng điện thoại di động trên đảo..(sân bay Thị Tứ)
Hoạt động của Malaysia:
Thường xuyên duy trì các tàu trực, tàu tuần tiễu để bảo vệ các đảo đã chiếm đóng ở Trường Sa. Tàu quân sự Ma-lay-sia đã nhiều lần bắt tàu cá Việt Nam, thu thiết bị máy bộ đàm, định vị vệ tinh, sau đó thả hoặc đưa về Ma-lai-sia xử lý. (một số hình ảnh MLSIA)
Khu vực quần đảo trường sa
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta

- Khu vực biển giáp ranh giữa Việt Nam và Cămpuchia có diện tích không lớn nhưng có mật độ tàu thuyền rất cao hoạt động đánh bắt hải sản và buôn bán trên biển với sự tham gia của ngư dân Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Vì thế tình hình an ninh trật tự ở vùng biển này rất phức tạp.
Do chưa có thoả thuận ở cấp Chính phủ giữa 2 nước (VN-CPC) nên ngư dân ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng đã tự thoả thuận với lực lượng quản lý biển của Cămpuchia để được phép sang đánh bắt cá. Nên gần đây đã xảy ra tình trạng ngư dân Việt Nam thoả thuận với lực lượng này thì bị lực lượng khác của Cămpuchia bắt phạt tiền, tịch thu phương tiện, trang bị.
Bản đồ Hải Quân năm 2010
Vùng biển tây nam
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta

I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta


* Trên thềm lục địa phía Nam:
Thời gian qua có những điểm đáng lưư ý là:
+ Với chính sách nhất quán về chủ quyền Biển Đông, bằng mọi hình thức Trung Quốc tích cực xây dựng nhiều dự án, kế hoạch thăm dò, khảo sát, có nhiều lúc xâm phạm vào vùng thềm lục địa của ta (như đã trình bày ở các phần trên), đồng thời Trung Quốc cho công bố Bản đồ chuẩn quốc gia trên trang Web của Trung tâm tư liệu bản đồ quốc gia. Đây là bản đồ Lưỡi bò mà Trung Quốc đã từng công bố trong nội bộ, bây giờ công bố công khai trên mạng. Nếu theo bản đồ này, thì chúng ta không có thềm lục địa, thậm chí còn chiếm gần hết vùng lãnh hải của Việt Nam và một số nước.
+ Chủ trưương trong đàm phán của Trung Quốc là ghép vùng thềm lục địa phía Nam (DK1) vào với Trưường Sa, coi đó là vùng phụ cận của Trưường Sa. Điều này là điều họ đã tính toán nhằm đưa vùng thềm lục địa phía Nam của ta thành vùng tranh chấp. Trong thực tế, Trung Quốc đã thường xuyên cho các tàu nghiên cứu, thăm dò, khảo sát hoạt động tại khu vực này ( có đợt kéo dài gần 1 tháng ), xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền vùng biển của ta. Hiện nay trên khu vực này ta bố trí các nhà dàn ( là trạm dịch vụ kinh tế kỹ thuật ).(DK1)

* Từ tình hình trên cho phép chúng ta rút ra một số vấn đề sau:
- Tình hình Biển Đông và trên các vùng biển, đảo nước ta tiếp tục diễn biến phức tạp, căng thẳng, tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định, luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột vũ trang.
Xu hướng chung hiện nay là giảm chạy đua vũ trang, tuy nhiên các nước xung quanh Biển Đông vẫn tăng cường mua sắm tàu chiến đấu mới, máy bay, đẩy mạnh việc kiểm soát biển, hổ trợ cho việc đòi chủ quyền.
Tình hình trên đã và đang đặt ra những yêu cầu mới mẽ, nặng nề đối với việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, tác động trực tiếp đến sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội biển đảo và củng cố an ninh - quốc phòng trên các vùng biển, đảo của nước ta.
Năm 2010
Hà Nội
I- khái quát vai trò đại dương, biển đông và tình tình biển, đảo nước ta

II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam

1. Phạm vi chủ quyền các vùng biển, đảo của Việt Nam.
Theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật
biển năm 1982 thì các quốc gia có các vùng
biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc
gia như sau:
- Nội thuỷ.
- Lãnh hải.
- Vùng tiếp giáp lãnh hải.
-Vùng đặc quyền kinh tế.
-Vùng thềm lục địa.
Là một quốc gia ven biển, chúng ta đã ký kết
và phê chuẩn Công ước về Luật biển 1982 nên
Việt Nam cũng có những vùng biển như đã nêu trên. trong tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1997, Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định rất rõ phạm vi, chế độ quản lý, quyền hạn và nghĩa vụ của mình trên các vùng biển đó.( Xem 1ảnh các đường gianh giới)
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam
2- Cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
a-Vị trí địa lý, tài nguyên hai quần đảo:
+ Quần đảo Hoàng Sa có trên 30 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác từ Đông sang Tây khoảng 100 Hải lý giữa vĩ độ 150 45 , Bắc - 170 15 , Bắc và kinh độ 1110 Đông - 1130 Đông, án ngữ ngang Vịnh Bắc bộ từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý với diện tích khoảng 15.000Km2, cách đảo Lý Sơn (thuộc tỉnh Quảng Ngãi) của ta là 120 hải lý , cách đảo Hải Nam (Trung quốc) khoảng 140 hải lý, chiếm một diện tích khoảng 15.000km2. Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10 km2. Quần đảo Hoàng sa được chia thành 2 nhóm:
Nhóm phía Đông gồm khoảng 8 hòn đảo lớn nhỏ và một số mỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước. Lớn nhất là đảo Phú lâm và Linh Côn rộng trên dưới 1,5km2, có nhiều cây cối, ngoài ra còn một số đảo như đảo Cây, đảo Bắc, đảo Trung, đảo Nam có diện tích khoảng 0,4km2 trở xuống.
Nhóm phía Tây, gồm 15 đảo lớn nhỏ. Các đảo Hoàng sa, Hữu Nhật, Quang ảnh, Quang Hà, Duy Mộng, Tri Tôn, Chim én.có diện tích khoảng 0,5 Km2 trở xuống.. Hiện nay quần đảo Hoàng sa đang bị Trung Quốc tạm thời chiếm giữ.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam
+Quần đảo Trường Sa nằm về phái Đông nước ta trong khoảng vĩ độ 60 30,Bắc -120 00 , Bắc và kinh độ 1110 30, Đông 1170 30 , Đông có hơn 100 đảo lớn nhỏ trên một vùng biển rộng lớn khoảng từ 160.000 đến 180.000 Km2 là một huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa, cách tỉnh Khánh Hoà khoảng 248 hải lý và ít nhất cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 600 hải lý còn cách đảo Đài Loan khoảng 960 hải lý. Diện tích toàn bộ phần đất nổi của quần đảo khoảng 10 km2, đảo Ba Bình là đảo lớn nhất, đảo Song Tử Tây là đảo cao nhất( 4-6m).
-Hiện nay tại quần đảo Trường sa đang có sự tranh chấp 5 nước 6 bên là:
+ Việt Nam đang quản lý 21 đảo (gồm 9 đảo nổi và 12 đảo chìm với 33 điểm đóng quân). 21 đảo đó là Song Tử Tây; Đá Nam; Nam Yết; Sơn Ca; Đá Thị; Sinh Tồn; Sinh Tồn Đông; Cô Lin; Len Đao; Đá Lớn; Phan Vinh; Núi Le; Tốc Tan; Tiên Nũ; Trường Sa; Trường Sa Đông; Đá Tây; Đá Lát; Đá Đông; Thuyền Chài; An Bang; Trong đó có 9 đảo nổi đó là: Song Tử Tây; Nam Yết; Sơn Ca; Sinh Tồn; Sinh Tồn Đông; Phan Vinh; Trường Sa; Trường Sa Đông; An Bang.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam

+ Trung Quốc đang chiếm đóng trái phép 7 bãi đá ngầm là: Chữ Thập; Châu Viên; Gạc Ma; Ga Ven; Xu Bị; Huy Gơ; Vành Khăn.(Xem Bản đồ)

+ Đài Loan chiếm đóng Đảo Ba Bình (là đảo lớn nhất), năm 2004 hộ lại cắm cờ và tiếp tục tuyên bố chủ quyền tại bãi Bàn Than.
+ Phi lípin: Chiếm đóng 8 đảo: Song tử Đông; Đảo Dừa; Thị Tứ; Pa-Na-Ta; Loại Ta; Vĩnh Viễn; Bình Nguyên; Công Đo.
+ Malaixia: Chiếm đóng 5 đảo đó là: Chim én; Kỳ Vân; KIều Ngựa; Thám Hiểm; én Ca.
+ Brunei: tuy hộ chưa chiếm đóng đảo nào, nhưng hộ cũng tuyên bố có chủ quyền trên quần đảo Trường sa.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam

*- Một số nội dung xung quanh bản đồ lưỡi bò của Trung Quốc:
Sau cuộc đổ bộ chớp nhoáng của Đô đốc Lý Chuẩn lên Hoàng sa (1909), Trung Quốc bắt đầu quan tâm tranh chấp chủ quyền trên quần đảo này. Tuy nhiên, tại các hội nghị quốc tế về quy chế lãnh thổ sau Chiến tranh thế giới thứ hai như Hội nghị Cairo, Posdam, Trung quốc lại tuyệt nhiên không nói gì tới hai quần đảo Hoàng sa, Trường sa.
Năm 1947, Chính quyền Trung Hoa dân quốc xuất bản bản đồ " Nam hải chư đảo " và được Cộng hòa nhân dân Trung Hoa in lại năm 1950 trên bản đồ " Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc phân tinh đồ " thể hiện đường yêu sách 9 đoạn đứt khúc ( gọi nôm na là đường lưỡi bò ) chiếm tới 80% diện tích Biển Đông, cho rằng đây là đường " Quốc giới " và vùng biển phía trong là " Vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung quốc ". Việc về một đường đứt khúc mơ hồ để đòi hỏi chủ quyền biển như vậy là vô căn cứ, trái với luật pháp và tập quán quốc tế, không có cơ sở thực tiễn và lịch sử, không được các quốc gia khu vực và thế giới thừa nhận.. Việc đưa ra " Đường lưỡi bò " là nguyên nhân chủ yếu và sâu xa làm cho tình hình Biển Đông trở lên phức tạp. Hành động này của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng các quy định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Hiến chương Liên Hợp Quốc.

II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam

b- Quá trình xác lập hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt nam:
+ Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là các hòn đảo không phải của bất kỳ quốc gia nào cho đến đầu thế kỷ XVII; theo hiểu biết địa lý lúc bấy giờ, hai quần đảo được thể hiện liền một dải, bao gồm cả Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa, ban đầu được người Việt nam gọi chung một tên nôm là bãi cát vàng.
+Vào nửa đầu thế kỷ XVII, chúa Nguyễn tổ chức thêm " Đội Hoàng Sa" lấy người từ xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi ra quần đảo Hoàng Sa thâu lượm hàng hoá, khí cụ trên các tàu mắc cạn và đánh bắt hải sản quý hiếm mang về dâng nộp; chúa Nguyễn lại tổ chức thêm "Đội Bắc Hải" lấy người thôn Tứ Chính hoặc xã Cảnh Dương, phủ Bình Thuận, cấp giấy phép ra quần đảo Trường Sa với cùng nhiệm vụ như đội Hoàng Sa.
Các hoạt động này được ghi nhận trong nhiều tài liệu lịch sử như " Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư" của Đỗ Bá tự Công Đạo ( 1686), " Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đôn ( 1776), " Lịch triều hiến chương loại chí" của Phan Huy Chú (1821), " Đại Nam thực lục tiền biên" (1844-1848), " Đại Nam thực lục chính biên" (1844-1848), " Đại Nam nhất thống chí" do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (1910), dư địa chí " Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ", " Quốc triều chính biên toát yếu" (1910).
Đồng thời, hai quần đảo và các hoạt động của triều đình phong kiến Việt Nam trên đó cũng được nhắc đến trong các tác phẩm nước ngoài như Hải ngoại ký sự (1696), An Nam đại quốc hoạ đồ (1838), Nhật ký Batavia ( 1936)...Cùng với nhiệm vụ khai thác Hải sản và hàng hoá trên quần đảo, nhà Nguyễn còn tổ chức đo đạc, khảo sát, dựng bia, cắm mốc, trồng cây trên quần đảo...liên tục trong các năm 1834, 1835, 1836.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam
+Thông qua việc tổ chức khai thác tài nguyên trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa liên tục hàng thế kỷ, trên thực tế cũng như về mặt pháp lý, nhà Nguyễn đã làm chủ hai quần đảo từ khi hai quần đảo này còn chưa thuộc về lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào và biến hai quần đảo từ vô chủ thành bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam.
+Thời kỳ Pháp xâm lược Việt nam, trên cơ sở đại diện cho triều đình phong kiến An Nam, Pháp đã có nhiều hành động củng cố chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng sa bằng việc tiến hành tuần tra, kiểm soát và đưa quân ra chiếm đóng trên các đảo. Để quản lý hành chính, ngày 21/12/1933, Thống đốc Nam Kỳ đã ra Nghị Định số 4762-CP sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa ( Nam Kỳ). Ngày 30/3/1938, Hoàng đế Bảo Đại ra dụ số 10, tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt Tỉnh Nam Ngãi đặt vào Tỉnh Thừa Thiên.
+Ngày 15/6/1938, Toàn quyền Đông dương ra Nghị định số 156-SV thành lập một đơn vị hành chính ở quần đảo Hoàng Sa, tỉnh Thừa Thiên. Ngày 5/5/1939, Toàn quyền Đông Dương lại ký Nghị Định số 3282 tách quần đảo Hoàng Sa làm hai đơn vị hành chính.
+Trong năm 1938, pháp đã tiến hành dựng bia chủ quyền ở đảo Hoàng Sa, thuộc quần đảo Hoàng Sa, trên cột mốc có ghi dòng chữ " Cọng hoà Pháp, Đế quốc An Nam, quần đảo Hoàng Sa - 1816, đảo Hoàng Sa - 1838 ". Pháp xây một Hải Đăng, lập trạm khí tượng, trạm vô tuyến ở đảo Hoàng Sa ( quần đảo Hoàng Sa) và một trạm khí tượng ở đảo ba Bình ( Trường Sa). Trong suốt các năm 1931-1932, Pháp liên tục phản đối việc Trung Quốc đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam

+Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, Pháp quay lại Hoàng Sa và Trường Sa; ngày 08/3/1949, Pháp công nhận độc lập thống nhất của Việt nam và ngày 14/10/1950, Pháp chính thức trao việc phòng thủ quần đảo Hoàng Sa cho Việt Nam. Ngày 06/9/1951, tại hội nghị San Franciscô, ông Trần văn Hữu, Thủ tướng, kiêm ngoại trưởng Chính phủ Miền Nam Việt Nam trong phát biểu của mình, đã chính thức tuyên bố và khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt nam đối với 2 quần đảo: " Và cũng cần phải lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Spratlys và Paracel, tạo thành một phần lãnh thổ của Viẹt nam".

+Tiếp đó chính quyền Việt Nam Cộng hoà đã đóng quân trên hai quần đảo, đảm nhiệm quản lý hai quần đảo theo đúng trách nhiệm mà hiệp định Giơnevơ năm 1954 và Việt Nam, trao cho quản lý tạm thời nửa nước Việt nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, trong khi chờ đợi thống nhất đất nước bằng tổng tuyển cử tự do. Trong thời gian này, các chính phủ Việt nam nói trên đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo bằng các hoạt động Nhà nước. Ngày 20/10/1956, Tổng thống Chính quyền sài Gòn đã ra sắc lệnh số 143-NV về thay đổi địa giới các Tỉnh, Thành phố Miền Nam, trong đó đã đặt quần đảo Trường Sa vào địa phận tỉnh Phước Tuy. Trong sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 về việc sắp xếp lại quần đảo Hoàng Sa, tổng thống chính quyền Sài Gòn đặt quần đảo Hoàng Sa, trước thuộc tỉnh Thừa Thiên vào tỉnh Quảng Nam và thành lập tại đây một đơn vị hành chính gọi là xã Định Hải thuộc quận Hoà Vang, tỉnh Quảng Nam.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam
+ Nghị định số 709-BNV-HCDP-26 ngày 21/10/1969 của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn, sát nhập xã Định Hải ( quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hoà Long, quận Hoà Vang, tỉnh quảng Nam. Nghị định số 420-BNV-HĐP/26 ngày 06/9/1973 của Bộ trưởng Bộ nội vụ Chính quyền sài Gòn thi hành quyết định của hội đồng nội các ngày 09/01/1973, quyết định quần đảo Trường Sa được sát nhập vào xã Phước hải, Quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
+Tháng 4/1956, chính quyền Việt Nam cộng hoà đã đưa quân ra thay thế quân Pháp trên các đảo thuộc nhóm phía Tây của quần đảo Hoàng Sa và trong khi chưa kịp triển khai trên các đảo thuộc nhóm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, thì Trung Quốc đã bí mật đưa quân đội ra chiếm đóng đảo này.
+Tháng 01/1974, khi Trung Quốc dùng Không quân và hải quân đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt nam; ngày 20/01/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời cộng hoà Miền Nam Việt Nam đã ra bản Tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc. Ngày 14/02/1975, Bộ Ngoại giao Chính quyền Sài Gòn công báo Sách trắng về các quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
+Tháng 4/1975, HQNDVN giải phóng các đảo Trường Sa, Sơn Ca, Nam Yết, Song Tử Tây, Sinh Tồn, An Bang do quân đội Sài Gòn đóng giữ. Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền nam Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến hai quần đảo này.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam

+Hiến pháp các năm 1980, 1992, luật biên giới quốc gia năm 2003, tuyên bố của Chính phủ ngày 12/11/1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt nam, tuyên bố của chính phủ ngày 12/11/1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ ngoại giao nước cộng hoà XHCN Việt Nam công bố các Sách trắng về chủ quyền của Việt nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, các tài liệu này đã chứng minh một cách rõ ràng chủ quyền của Việt nam đối với hai quần đảo trên tất cả các khía cạnh: Lịch sử- Pháp lý- thực tiễn quốc tế.
+ Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo, ngày 09/12/1982, Hội đồng bộ trưởng nước cộng hoà XHCN Việt nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng và tổ chức quần đảo trường sa thành huyện đảo Trường sa thuộc tỉnh Đồng Nai và sát nhập vào tỉnh Phú Khánh ( nay là tỉnh Khánh hoà). Nghị quyết ngày 06/11/1996 kỳ họp thứ X ( Quốc hội khoá IX).
-Thời kỳ pháp thuộc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới Pháp đã đưa tàu tuần tra vào 2 quần đảo này để cắm mốc chủ quyền và hàng năm đều có báo cáo. Pháp đã có nhiều hoạt động, chứng cứ để bảo vệ khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa kế thừa nhà nước phong kiến Việt Nam.
-Thời kỳ pháp chiếm đóng đã xây dựng cột mốc, cột Hải đăng, trạm khí tượng ở 2 quần đảo này, Pháp đã phản đối nhiều lần TQ về chủ quyền 2 quần đảo này trên diễn đàn quốc tế về yêu sách của TQ. Đến đầu TK 20 không có nước nào tranh chấp chủ quyền 2 quần đảo này.
II . Cơ sở khẳng định chủ quyền Hoàng Sa - Trường Sa của Việt nam
-Bản đồ của nhà Thanh TQ đã xác định chủ quyền của TQ cho đến đảo Hải Nam. Trong sách địa lý giáo khoa của TQ xuất bản năm 1946 cũng xác định như vậy.
-Thế giới cho rằng: nếu không có chiến tranh thế giới thứ 2 thì chủ quyền 2 quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa là liên tục và thực sự của Việt nam từ thế kỷ 17.
-Năm 1943 hội nghị thượng đỉnh Anh, Mỹ, Trung họp tại Cairo ai cập; TQ có đề cập đến Nhật bản đóng chiếm 2 quần đảo này. Hội nghị có tuyên bố các lãnh thổ của Nhật chiếm của TQ phải trả cho TQ ..... nhưng không hề nói đến hai quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
Như vậy có thể khẳng định về chủ quyền 2 quần đảo Hoàng sa và Trường Sa là hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam chúng ta không thể chối cãi được. Trong mọi thời đại, Nhà nước Việt Nam đã thể hiện chủ quyền một cách liên tục và lâu dài đối với 2 quần đảo này. Tuy nhiên hiện nay, chủ quyền nước ta đối với 2 quần đảo đã và đang bị xâm phạm nghiêm trọng bởi nhiều nước trong khu vực.
IIi .Hoạt động bảo vệ chủ quyền biển, đảo của HQND việt nam.
Thứ nhất: Quân chủng đã hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ làm nòng cốt bảo vệ chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa, duỷ trì sự ổn định trên các vùng biển, giữ được chủ quyền, không để xảy ra xung đột.
Quân chủng Thường xuyên duy trì lực lượng tàu trực trên các vùng biển, nhất là các vùng biển trọng điểm. Chủ động phát hiện và làm tham mưu, đề xuất cho Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc Phòng xử lý c
Avatar

Bài giảng về Biển - Đảo Việt Nam

No_avatar

Chủ quyền biển đảo ít thấy được nhà nước nhắc đến nhỉ?

 

 

mỹ đình plaza

dự án eurowindow

chung cư the k park văn phú

dự án mon bay quảng ninh

louis city

No_avatar

Chung Cư [url=http://centralland.com.vn/chung-cu-icid-complex-ha-dong-da-co-hon-300-luot-dat-cho-truoc-ngay-mo-ban/] icid complex [/url] lê trọng tấn hà đông

[url=http://centralland.com.vn/chung-cu-goldlight-complex-khuat-duy-tien/] chung cư goldlight complex [/url] chủ đầu tư TNR Holdings

[url=http://booyoungvinamolao.com/mo-ban-du-an-chung-cu-goldlight-complex-city-168-khuat-duy-tien/] chung cư 168 khuất duy tiến[/url] sắp mở bán chính thức

Dự án [url=http://www.chungcugoldlight-khuatduytien.com] goldlight complex [/url]  tọa lạc tại 168 khuất duy tiến

[url=http://centralland.com.vn/du-an-chung-cu-goldmark-city-136-ho-tung-mau/] goldmark city [/url]

[url=http://www.bdsdanko.com/2017/03/ban-chung-cu-goldlight-complex-city-khuat-duy-tien.html] dự án goldlight complex [/url] chưa mở bán đã chính thức nóng

 

 [url=http://www.bdsnhaxanh.com/2017/04/chung-cu-icid-complex-c37-le-trong-tan.html] icid  complex hà đông[/url] giá chỉ 18tr/m2

No_avatar

 

 

<a href="http://centralland.com.vn/du-an-chung-cu-sunshine-city-tay-ho-ha-noi"> sunshine city </a>

<a href="http://www.bdsnhaxanh.com/2017/04/chung-cu-icid-complex-c37-le-trong-tan.html"> chung cu icid complex </a>

<a href="http://www.bdsnhaxanh.com/2016/12/tong-quan-chung-cu-booyoung-vina-mo-lao.html"> chung cu booyoung</a> khu dô th? m? lao hà dông

<a href="http://booyoungvinamolao.com/mo-ban-du-an-chung-cu-goldlight-complex-city-168-khuat-duy-tien/"> chung cu goldlight complex </a>

<a href="http://centralland.com.vn/du-an-chung-cu-goldmark-city-136-ho-tung-mau"> chung cu goldmark city </a>

<a href="http://www.bdsdanko.com/2017/02/tong-quan-du-sunshine-city-nam-thang-long-tay-ho.html"> sunshine city </a>

<a href="http://centralland.com.vn/chung-cu-icid-complex-ha-dong-da-co-hon-300-luot-dat-cho-truoc-ngay-mo-ban"> chung cu icid complex </a>

<a href="http://booyoungvinamolao.coml"> chung cu booyoung</a> khu dô th? m? lao hà dông

<a href="http://www.chungcugoldlight-khuatduytien.com"> chung cu goldlight complex </a>

<a href="http://booyoungvinamolao.com/chung-cu-goldmark-city-ho-tung-mau"> chung cu goldmark city </a>

No_avatar

Chung Cư [url=/] icid complex [/url] lê trọng tấn hà đông

[url=/] chung cư goldlight complex [/url] chủ đầu tư TNR Holdings

[url=] chung cư 168 khuất duy tiến[/url] sắp mở bán chính thức

Dự án [url=] goldlight complex [/url]  tọa lạc tại 168 khuất duy tiến

[url=] goldmark city [/url]

[url=] dự án goldlight complex [/url] chưa mở bán đã chính thức nóng

 

icid  complex hà đông[/url] giá chỉ 18tr/m2

 

chung cư sunshine city 

dự án icid complex [/url]

chung cư sunshine city 

dự án sunshine city

goldlight complex

goldlight complex 

 

chung cư booyoung khu đô thị mỗ lao hà đông

 
Gửi ý kiến